Chương 14: Phòng ngừa phơi nhiễm với HIV, Viêm gan B, Viêm gan C do nghề nghiệp |
||||||||||||||||
14.1 Sơ lược về dịch tể phơi nhiễm |
||||||||||||||||
Nhân viên y tế có nguy cơ bị phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh lây truyền qua đường máu, bao gồm viêm gan siêu vi B (VGSV B), viêm gan siêu vi C (VGSV C) và virus HIV. Phơi nhiễm xảy ra do kim hoặc do các vật bén bị vấy máu hay dịch tiết của người bệnh đâm phải (phơi nhiễm qua da) hoặc do mắt, mũi, miệng, da không lành lặn tiếp xúc với máu/dịch tiết của người bệnh (phơi nhiễm qua đường niêm mạc) . Theo thống kê của CDC 2000, có 384.000 thương tổn qua da xảy ra trên nhân viên y tế trong bệnh viện hàng năm. Khoảng 1% nhân viên y tế làm việc tại bệnh viện có bằng chứng của nhiễm VGSV C, hằng năm có vào khoảng 800 nhân viên y tế bị nhiễm VGSV B sau khi bị phơi nhiễm do nghề nghiệp. Theo thống kê của WHO, toàn thế giới năm 2000 trong nhân viên y tế có khoảng 16.000 người nhiễm VGSV C, 66.000 nhiễm VGSVC, và 1.000 nhiễm HIV do phơi nhiễm nghề nghiệp từ những thương tổn qua da. Những cơ chế gây tổn thương được liệt kê trong bảng 14-1. Bảng 14-1: Cơ chế gây tổn thương qua da thường gặp
Thao tác với các dụng cụ hay bệnh phẩm
Va chạm với người hay vật bén nhọn khác Liên quan đến việc xử lý rác
Vật sắc nhọn ở những vị trí không an toàn
--------------------------------------------------------------------------------------------- |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.2 Phòng ngừa phơi nhiễm |
||||||||||||||||
14.2.1 Phòng ngừa chuẩn (standard precautions) / phổ cập (universal precautions) |
||||||||||||||||
Xem chương cách ly phòng ngừa |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.2.2 Phòng ngừa tổn thương qua da |
||||||||||||||||
14.2.2.1 Cải tiến thủ thuật và đào tạo cho NVYT biết thực hành an toàn trong khi làm việc. |
||||||||||||||||
1. Đảm bảo sử lý kim an toàn trong khi chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt trong những hoạt động có nguy cơ cao: ii. Đầu kim hay vật sắc nhọn phải đặt xa cơ thể. 3. Sử dụng kim với những đặc điểm an toàn trong những chương trình tăng cường phòng ngừa phơi nhiễm, khi có nguồn tài chính dồi dào. 4. Chú ý những thao tác đặc biệt trong phòng mổ để ngừa tổn thương. 5. Bỏ kim hay vật sắc nhọn ngay vào thùng rác chứa vật sắc nhọn sau sử dụng |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.2.2.2 Quản lý, sử dụng và vứt bỏ an toàn vật sắc nhọn |
||||||||||||||||
Việc vứt bỏ không đúng cách vật sắc nhọn bị nhiễm có thể làm lây nhiễm cho cộng đồng. “Vật sắc nhọn” chỉ bất kì dụng cụ trong môi trường bệnh viện có khả năng đâm thủng da bệnh nhân, nhân viên y tế và thân nhân, bao gồm kim, dao mổ, kéo và kim khâu. “Sử dụng an toàn vật sắc nhọn” chỉ các biện pháp đặc biệt cần thiết trong khi sử dụng vật sắc nhọn, khi làm sạch các vật sắc nhọn dùng lại và xử lí vật sắc nhọn đã qua sử dụng. Để tránh bị thương khi vứt bỏ vật sắc nhọn cần:
Thùng đựng vật sắc nhọn phải thỏa được các tiêu chuẩn thực hành tối ưu. |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.2.3 Ngăn ngừa phơi nhiễm với máu qua niêm mạc |
||||||||||||||||
Cần sử dụng dụng cụ phòng hộ cá nhân để ngăn ngừa phơi nhiễm qua niêm mạc. Dụng cụ phòng hộ là những dụng cụ nhân viên y tế có thể mang để bảo vệ mình khỏi bị nhiễm bệnh khi tiếp xúc gần với bệnh nhân. Dụng cụ phòng hộ cá nhân cũng có thể bảo vệ bệnh nhân không bị nhiễm các vi sinh vật thường trú và vảng lai của nhân viên y tế. Các dụng cụ phòng hộ cá nhân thường được sử dụng bao gồm găng tay, khẩu trang, áo choàng, nón, mắt kính và ủng hay bao giày. Chùi rửa, khử khuẩn, tiệt khuẩn môi trường cũng cần thiết để ngăn ngừa phơi nhiễm.Những virus đường máu dễ dàng bị tiêu diệt bởi những hoá chất khử khuẩn (ví dụ hợp chất ammonium bậc 4, dung dịch sodium hypochlorite, ethyl alcohol). a. Đối với những vết máu và dịch cơ thể bị đổ. Dùng khăn một lần để hút hết máu đổ rồi bỏ. Chùi khử khuẩn thêm bằng các hóa chất khử khuẩn như đã nêu. b. Đối vơi dụng cụ chăm sóc bệnh nhân. Mức độ khử khuẩn dụng cụ tùy thuộc vào khả năng gây bệnh của các dụng cụ sử dụng. Xem chương 6 về khử tiệt khuẩn dụng cụ. |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.2.4 Các biện pháp đào tạo và hỗ trợ |
||||||||||||||||
Trong bệnh viện, thường khoa chống nhiễm khuẩn chịu trách nhiệm điều phối những chính sách kiểm soát nhiễm khuẩn và quản lý NVYT bị phơi nhiễm. Tại những cơ sở y tế không phải là bệnh viện, cần có hội đồng để đưa ra và áp dụng những kế hoạch quản lý NVYT phơi nhiễm và dự phòng phơi nhiễm. Chương trình đào tạo cho NVYT cần bao gồm: |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.3 Điều trị phòng ngừa sau phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV và Viêm gan siêu vi |
||||||||||||||||
Nguy cơ nhiễm HIV phụ thuộc các yếu tố :
|
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.3.1 Quy trình điều trị phòng ngừa sau phơi nhiễm nghề nghiệp với HIV và Viêm gan siêu vi |
||||||||||||||||
Ngay tức khắc sau khi xảy ra phơi nhiễm với máu
Báo cáo ngay lên khoa có trách nhiệm xử trí các phơi nhiễm (khoa chống nhiễm khuẩn), vì một số trường hợp cần được trị liệu sau phơi nhiễm và phải được thực hiện càng sớm càng tốt (Sơ đồ 14-1) Sơ đồ 14-1 QUY TRÌNH XỬ TRÍ SAU KHI BỊ PHƠI NHIỄM VỚI MÁU/ DỊCH TIẾT |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.3.1.1 Viêm gan siêu vi B |
||||||||||||||||
Chủng ngừa VGSVB là biện pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa VGSVB cho nhân viên y tế. Tất cả nhân viên y tế có nguy cơ cao bị phơi nhiễm với máu hoặc dịch tiết cần phải được chủng ngừa VGSV B. Nếu chưa được chủng ngừa, nên chủng ngừa VGSV B sau phơi nhiễm, bất kể tình trạng nhiễm VGSV B của người bệnh nguồn. Globulin miễn dịch VGSV B (HBIG) có hiệu quả ngăn ngừa nhiễm VGSV B sau khi bị phơi nhiễm. Trị liệu sau phơi nhiễm nên bắt đầu càng sớm càng tốt sau khi bị phơi nhiễm, tốt nhất là trong vòng 24 giờ, và không trể hơn 7 ngày. Cách xử trí được tóm tắt qua bảng 14-2. Bảng 14-2: Xử trí phơi nhiễm VGSV B sau khi tiếp xúc với nguồn máu có (hay có thể) HBsAg
§ Liều HBIG 0,06 ml/Kg TB |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.3.1.2 Viêm gan siêu vi C |
||||||||||||||||
Chưa có thuốc chủng đối với VGSV C. Immunoglobin IG và thuốc kháng virus không được khuyến cáo cho phòng ngừa sau khi bị phơi nhiễm. Các nghiên cứu cho thấy trị liệu sớm nhiễm HCV bằng interferon có liên quan với một tỉ lệ khỏi cao hơn. Tuy nhiên, chưa có dữ kiện chứng minh trị liệu bắt đầu trong giai đoạn cấp của nhiễm trùng là có hiệu quả hơn trị liệu sớm nhiễm HCV mạn tính. |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.3.1.3 HIV |
||||||||||||||||
Chưa có thuốc chủng đối với HIV. Việc quyết định điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (DTSPN) cần tính đến bản chất của phơi nhiễm (do bị kim đâm hoặc do tiếp xúc với dịch cơ thể), và khả năng lây nhiễm của nguồn phơi nhiễm (số lượng máu và dịch gây phơi nhiễm) (Bảng 14-3 và 14-4). Phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể có chứa virus HIV do rủi ro nghề nghiệp được xem như một vấn đề cấp cứu nội khoa và cần điều trị phòng ngừa sau phơi nhiễm kịp thời. Nên bắt đầu phòng ngừa sau phơi nhiễm càng sớm càng tốt, tốt nhất trong vòng hai giờ đầu. Thậm chí ngay cả khi không phòng ngừa được nhiễm HIV, điều trị sớm nhiễm HIV có thể làm nhẹ các triệu chứng và làm chậm sự xuất hiện của AIDS. Khoảng thời gian mà sau đó phòng ngừa sau phơi nhiễm không có lợi ích nào ở người chưa xác định được. Do đó, nếu phơi nhiễm cần phải được xử lý, vẫn bắt đầu phòng ngừa sau phơi nhiễm ngay cả khi thời gian sau phơi nhiễm đã vượt quá 36 giờ. Bắt đầu trị liệu trễ sau khi phơi nhiễm (ví dụ một, hai tuần) có thể được xét đến đối với các phơi nhiễm có nguy cơ cao. Bảng 14-3 Phác đồ DTSPN cơ bản 2 thuốc Bảng 14-4: Phác đồ DTSPN cơ bản 2 thuốc |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.3.2 Theo dõi sau phơi nhiễm |
||||||||||||||||
14.3.2.1 Viêm gan siêu vi B |
||||||||||||||||
Trị liệu sau phơi nhiễm rất có hiệu quả trong phòng ngừa nhiễm VGSV B nên không khuyến cáo theo dõi thường qui. Tuy nhiên, nếu có bất kỳ triệu chứng nào gợi ý viêm gan nên báo lên khoa chống nhiễm khuẩn. | ||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.3.2.2 Viêm gan siêu vi C |
||||||||||||||||
Đối với nguồn bệnh, xét nghiệm ban đầu tìm anti HCV |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||
14.3.2.3 HIV |
||||||||||||||||
Xét nghiệm người bị phơi nhiễm và bệnh nhân nguồn để biết tình trạng huyết thanh học vào thời điểm phơi nhiễm đối với kháng thể kháng HIV. Nếu bệnh nhân nguồn âm tính với HIV, không cần thiết xét nghiệm theo dõi tiếp theo. Nếu bệnh nhân nguồn dương tính với HIV, cần tham vấn theo dõi, xét nghiệm sau phơi nhiễm, và đánh giá bệnh dù có điều trị phòng ngừa sau phơi nhiễm hay không. Xét nghiệm ELISA tìm kháng thể HIV nên được thực hiện vào lúc 6, 12 tuần và 6 tháng sau phơi nhiễm. Việc dùng các xét nghiệm trực tiếp (kháng nguyên HIV p24 EIA hoặc HIV PCR RNA) để phát hiện HIV nói chung không được khuyến cáo. Một số tình huống cần theo dõi 12 tháng như: cần dùng các phác đồ chống retrovirus mở rộng hoặc phơi nhiễm cùng lúc với HCV. Nên xét nghiệm HIV ngay nếu nhân viên y tế có hội chứng retrovirus cấp, bất kể thời gian kể từ khi bị phơi nhiễm. Nếu dùng thuốc chống virus để trị liệu phòng ngừa, cần phải được kiểm tra công thức máu và xét nghiệm chức năng thận và gan ngay trước khi bắt đầu trị liệu và 2 tuần sau khi trị liệu. Trong giai đoạn theo dõi, đặc biệt trong 6-12 tuần đầu, cần tuân thủ các khuyến cáo nhằm ngăn ngừa sự lây truyền của HIV. Không cho máu, tich dịch hoặc phủ tạng và không được giao hợp. Phụ nữ nên tránh cho con bú trong giai đoạn này để ngăn ngừa trẻ bị phơi nhiễm với HIV có trong sữa mẹ.Báo cáo bất kỳ một bệnh nào giống như cúm đột nhiên xuất hiện và nặng xảy ra sau đó, đặc biệt khi có sốt phát ban, đau cơ, mệt mỏi, khó chịu, và sưng các hạch. |
||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||